Đánh giá hiệu quả của cát và bazan nghiền mịn với cường độ nén của bê tông

Thảo luận trong 'Rao vặt tổng hợp' bắt đầu bởi victorianga, 6/12/22.

  1. victorianga

    victorianga

    D.C Flat
    Bài viết:
    1,149
    Đã được thích:
    0
    Giới tính:
    Nữ
    Đánh giá hiệu quả của cát và bazan nghiền mịn với cường độ nén của bê tông Điều quan trọng nhất giúp cho chất lượng và tuổi thọ công trình đạt mức tiêu chuẩn chính là phải chọn được vật liệu xây dựng tốt, Máy đánh bóng bê tông tốt. Kết quả nghiên cứu đánh giá hiệu quả của cát và bazan nghiền mịn thay thế 10 - 40% PC trong BT cường độ 30 và 50 MPa có thể đưa ra kết luận sau: - C và BZ nghiền mịn thay thế 10 - 40% PC làm giảm cường độ nén BT và mức độ giảm tăng lên khi tăng mức thay thế PC. Tăng độ nghiền mịn của C và BZ, tăng thời gian rắn chắc của BT, mức độ giảm cường độ của BT giảm đi. - Đánh giá hiệu quả của C và BZ theo hàm lượng PC thực tế trong BT cho thấy: [​IMG] + Hiệu quả chung, hiệu quả trơ và hoạt tính của C và BZ tăng lên theo thời gian rắn chắc và hầu hết có giá trị dương từ tuổi 7 ngày rắn chắc. Tăng hàm lượng C và BZ trong BT, mức độ hiệu quả tăng lên. Mức độ hiệu quả chung và hoạt tính của C và BZ không khác nhau nhiều ở tuổi sớm, nhưng BZ có hướng lớn hơn so với C (đặc biệt với độ mịn cao) từ 7 ngày tuổi. + Hiệu quả của C và BZ có dấu hiệu cao hơn BT có cường độ cao tại cùng mức độ thay thế PC và thời gian rắn chắc. Tăng hàm lượng và độ mịn của C và BZ trong BT, mức độ hiệu quả trong cường độ nén của BT sẽ tăng lên. + Đánh giá hiệu quả của C và BZ theo 1% PGKTN thay thế PC cho thấy: hiệu quả đạt giá trị cao khi sử dụng hàm lượng thay thế 10 - 20% PC trong BT. Lớn hơn hàm lượng đó hiệu quả của C và BZ giảm đi phụ thuộc vào thời gian rắn chắc và độ mịn PGK. Hiệu quả của C và BZ nghiền mịn đánh giá theo 1% PGKTN này có thể là cơ sở để lựa chọn hàm lượng và độ mịn hợp lý của PGK sử dụng trong BT để đạt hiệu quả về kinh tế hay kỹ thuật. Sử dụng BaSO4 nghiền mịn để thay thế thành phần trơ của PGK trong nghiên cứu không ảnh hưởng xấu đến kết quả trong thí nghiệm phân tích nhiệt hay xác định mất khi nung của đá hay vữa ximăng poóc lăng như khi sử dụng C. Mặt khác đặc tính của BaSO4 cũng gần với các phụ gia khoáng hơn so với C. Thực tế hiệu quả do thành phần trơ và hoạt tính của PGK được đánh giá theo phương pháp tính toán gián tiếp và phụ thuộc nhiều vào việc lựa chọn PGK trơ thay thế chất trơ trong phụ gia khoáng sử dụng. Thực tế không thể xác định chính xác hàm lượng chất trơ trong PGK và sự ảnh hưởng của các loại chất trơ đến đặc tính cơ lý của BT. Để đánh giá đầy đủ về mức độ hiệu quả của PGK đến đặc tính BT cần phải nghiên cứu thêm về ảnh hưởng của các loại PGK trơ sử dụng, ảnh hưởng của thành phần chất trơ và hàm lượng chất trơ trong các loại PGK có độ mịn khác nhau trong bê tông có cường độ khác nhau.
     

Chia sẻ trang này